GIẢI ĐÁP MỘT SỐ TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT - Phần 1 (năm 2026)
GIẢI ĐÁP MỘT SỐ TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT
PHẦN 1 (NĂM 2026)
Tình huống 1: Anh B làm công nhân tại Doanh nghiệp X (hành nghề xây dựng), anh được Ban Giám đốc điều chuyển công tác từ vị trí Y trong điều kiện làm việc, lao động bình thường sang vị trí Z thuộc danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (cụ thể: Lắp đặt và tháo dỡ các máy, thiết bị nâng chuyển (cần trục tháp, cần trục, vận thăng, sàn treo) phục vụ thi công xây dựng công trình)). Do tính chất công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, anh B không biết mình có đủ điều kiện, sức khoẻ để đảm nhận công việc mới hay không, anh muốn biết pháp luật hiện hành quy định như thế nào về trách nhiệm của Chủ doanh nghiệp trong việc tổ chức khám sức khoẻ cho công nhân, người lao động trước khi bố trí công việc mới (nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm) cho công nhân, lao động. Nội dung khám sức khoẻ gồm những thông tin gì?
Trả lời:
1. Trách nhiệm của Chủ doanh nghiệp trong việc tổ chức khám sức khoẻ cho công nhân, người lao động trước khi bố trí công việc mới (nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm) cho công nhân, lao động
“Đối tượng khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc là người lao động thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 21 của Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13.”
- Khoản 3 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 quy định về khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động như sau:
“3. Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động.”
Nội dung khám sức khoẻ
Điều 5 Thông tư số 56/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ Y tế hướng dẫn quản lý bệnh nghề nghiệp quy định nội dung khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc như sau:
“1. Khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc thực hiện theo đúng nội dung của Phiếu khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này.
Trường hợp người lao động đã được khám sức khỏe định kỳ, cấp giấy khám sức khỏe và còn thời hạn sử dụng theo quy định tại Thông tư số 32/2023/TT-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh thì thực hiện khám chuyên khoa theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Tùy theo vị trí làm việc của người lao động, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp chỉ định khám chuyên khoa phù hợp với các yếu tố có hại tại vị trí làm việc.
3. Thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng (xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng) khi có chỉ định của người hành nghề để phù hợp với các yếu tố có hại tại vị trí làm việc.”
Từ những quy định pháp luật nói trên, trước khi điều chuyển, bố trí anh Anh B từ vị trí Y trong điều kiện làm việc, lao động bình thường sang vị trí Z thuộc danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, chủ Doanh nghiệp phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn. Trên cơ sở kết quả khám sức khoẻ của anh B, Doanh nghiệp sẽ bố trí công việc phù hợp với tình hình, sức khoẻ hiện tại của anh.
Tình huống 2: Chị H được Doanh nghiệp nước ngoài (đăng ký kinh doanh, hoạt động lĩnh vực dệt, may tại Việt Nam) ký kết hợp đồng lao động. Chị băn khoăn, lo lắng không biết pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong việc khám sức khoẻ cho công nhân lao động tại công ty như thế nào để mình yên tâm làm việc?
Trả lời:
1. Lập, quản lý hồ sơ sức khỏe, hồ sơ bệnh nghề nghiệp và lưu giữ trong suốt thời gian người lao động làm việc tại đơn vị; trả hồ sơ quản lý sức khỏe, hồ sơ bệnh nghề nghiệp (nếu có) cho người lao động khi người lao động chuyển công tác sang cơ quan khác hoặc thôi việc, nghỉ việc, nghỉ chế độ.
2. Phối hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp lập kế hoạch, tổ chức khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc, khám sức khỏe phát hiện bệnh nghề nghiệp.
3. Cung cấp đầy đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư này cho người lao động chủ động đi khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
3. Tạo điều kiện cho người lao động được điều trị, phục hồi chức năng theo quy định của pháp luật.
4. Hoàn chỉnh hồ sơ và giới thiệu người lao động được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp đi khám giám định trong thời gian 20 ngày sau khi điều trị, phục hồi chức năng hoặc sau khi khám phát hiện bệnh nghề nghiệp đối với những bệnh không có khả năng điều trị.
5. Thực hiện cải thiện điều kiện lao động, phòng, chống bệnh nghề nghiệp; thực hiện chế độ bảo hộ lao động, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động theo quy định của pháp luật.
6. Bố trí sắp xếp vị trí làm việc phù hợp với sức khỏe người lao động.
7. Cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu và phối hợp với đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp.
8. Báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Tình huống 3: Vợ chồng chị Q kết hôn đã được 03 năm, do hiếm muộn về đường con cái, hai vợ chồng chị đã chạy chữa nhiều nơi, đến nay chị Q đang mang thai con đầu lòng được 04 tháng. Quá trình làm việc tại cơ quan nhà nước chị Q bị động thai, bác sỹ Bệnh viện phụ sản đã khám cho chị Q, đồng thời chỉ định yêu cầu chị Q phải nhập viện, nghỉ ngơi, hạn chế di chuyển để dưỡng thai. Để được hưởng chế độ thai sản, Chị Q phải nộp các giấy tờ gì ?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 12 Thông tư số 25/2025/TT-BYT ngày 30/6/2025 của Bộ Y tế quy định chi tiết thi hành luật bảo hiểm xã hội, luật an toàn, vệ sinh lao động về lĩnh vực y tế và một số điều của luật khám bệnh, chữa bệnh quy định cụ thể về một số giấy tờ trong hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản (nghỉ việc để dưỡng thai như sau):
- Giấy ra viện;
- Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án;
- Giấy xác nhận quá trình điều trị nội trú;
- Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội;
- Giấy xác nhận nghỉ dưỡng thai.
Căn cứ quy định pháp luật, chị Q phải thu thập, tổng hợp đầy đủ các loại giấy tờ nói trên nộp cho cơ quan H nơi chị công tác để được thanh toán chế độ thai sản theo quy định.
Tình huống 4: Ông K muốn thành thành lập doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, do nguồn lực tài chính còn hạn hẹp, ông muốn biết pháp luật hiện hành quy định như thế nào về nội dung hoạt dịch vụ việc làm của doanh nghiệp, để từ đó, ông có thể cân nhắc nội dung, lĩnh vực, quy mô hoạt động cho phù hợp với năng lực tài chính của mình (sau khi thành lập doanh nghiệp)? Cơ quan nào có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm ?
Trả lời:
Nội dung hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp
Điều 12 Nghị định số 352/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật việc làm về dịch vụ việc làm (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026) quy định về nội dung hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp như sau:
1.1. Hoạt động tư vấn, gồm:
- Tư vấn, định hướng nghề nghiệp, khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia;
- Tư vấn việc làm cho người lao động để lựa chọn vị trí việc làm phù hợp với khả năng và nguyện vọng;
- Tư vấn về kỹ năng tham gia dự tuyển; về tự tạo việc làm, tìm việc làm trong nước và ngoài nước;
- Tư vấn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân về tuyển, sử dụng và quản lý lao động; về quản trị và phát triển việc làm, phát triển nguồn nhân lực;
- Tư vấn về chính sách lao động, việc làm cho người lao động, người sử dụng lao động.
1.2. Giới thiệu việc làm cho người lao động, gồm:
- Giới thiệu việc làm ở trong nước cho người lao động;
- Giới thiệu việc làm ở nước ngoài cho người lao động thông qua các doanh nghiệp được cấp phép đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài hoặc đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được giao nhiệm vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
1.3. Cung ứng và giới thiệu lao động cho người sử dụng lao động, gồm:
- Tuyển lao động thông qua thi tuyển để lựa chọn, giới thiệu những người đủ điều kiện, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động;
- Giới thiệu lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động.
- Thu thập, phân tích, lưu trữ và cung cấp thông tin về thị trường lao động.
2. Thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm
Điều 13 Nghị định số 352/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ quy định thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm đối với doanh nghiệp có trụ sở chính hoạt động dịch vụ việc làm tại địa phương.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp hoặc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm, cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm (sau đây viết tắt là Cơ quan có thẩm quyền) có trách nhiệm đăng tải Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm được cấp, cấp lại, gia hạn hoặc Quyết định thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành Giấy phép hoặc Quyết định và Sàn giao dịch việc làm quốc gia.
Tình huống 5: Ông D đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tại tỉnh A, nay ông chuyển sang tỉnh B cư trú. Để thuận tiện, ông muốn chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp theo nơi cư trú hiện tại mà không biết pháp luật hiện hành quy định như thế nào?
Điều 20 Nghị định số 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026) quy định về chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:
1. Người lao động đã hưởng ít nhất 01 tháng trợ cấp thất nghiệp theo quy định mà có nhu cầu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp đến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác thì phải nộp trực tiếp hoặc qua Cổng dịch vụ công quốc gia đề nghị chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 19 ban hành kèm theo Nghị định này và gửi tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của người lao động, tổ chức dịch vụ việc làm công có trách nhiệm gửi thông báo về việc chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp cho Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để dừng việc chi trả trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 20 ban hành kèm theo Nghị định này, đồng thời gửi giấy giới thiệu theo Mẫu số 21 ban hành kèm theo Nghị định này và hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi người lao động chuyển đến
Hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:
- Đề nghị chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động;
- Giấy giới thiệu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp;
- Bản chụp quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp;
- Bản chụp các quyết định hỗ trợ học nghề, quyết định tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp (nếu có);
- Bản chụp thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng (nếu có), các giấy tờ khác có trong hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp do người lao động chuyển đến, tổ chức dịch vụ việc làm công gửi văn bản đề nghị Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh nơi chuyển đến để tiếp tục thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động. Văn bản đề nghị Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh theo Mẫu số 22 ban hành kèm theo Nghị định này.
4. Trường hợp người lao động đã nhận hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng chưa nộp cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi chuyển đến và không có nhu cầu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp nữa thì người lao động phải nộp lại giấy giới thiệu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi chuyển đi. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận lại giấy giới thiệu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp, tổ chức dịch vụ việc làm công gửi văn bản đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để tiếp tục thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động.
5. Trường hợp người lao động không có nhu cầu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp nữa thì người lao động gửi đề nghị rút hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi chuyển đi theo Mẫu số 23 ban hành kèm theo Nghị định này.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đề nghị rút hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động, tổ chức dịch vụ việc làm công nơi chuyển đến gửi giấy giới thiệu theo Mẫu số 21 ban hành kèm theo Nghị định này và hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi người lao động chuyển đi.
6. Cơ quan bảo hiểm xã hội nơi người lao động chuyển đến hưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động theo quy định của pháp luật.
Tình huống 6: Chị K dự định cuối năm 2026 sẽ bắt đầu bán mặt hàng quần áo thời trang trên nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử. Khi tìm hiểu, chủ quản nền tảng thương mại điện tử yêu cầu khi tham gia bán hàng, chị K phải cung cấp thông tin về tên, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh theo nội dung đăng ký đã thực hiện với cơ quan đăng ký kinh doanh; tên, địa chỉ nơi đặt trụ sở của tổ chức; tên, địa chỉ cư trú của cá nhân. Chị K muốn biết yêu cầu này có hợp pháp không?
Trả lời:
“1. Người bán trên nền tảng thương mại điện tử trung gian không có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến thực hiện các trách nhiệm sau đây:
a) Cung cấp thông tin cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử để phục vụ xác thực danh tính người bán;
b) Cung cấp cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử thông tin về tên, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh theo nội dung đăng ký đã thực hiện với cơ quan đăng ký kinh doanh; tên, địa chỉ nơi đặt trụ sở của tổ chức; tên, địa chỉ cư trú của cá nhân;
c) Công khai thông tin về dịch vụ theo quy định của pháp luật có liên quan; thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; thông tin bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa, trừ thông tin có tính chất riêng biệt được thể hiện trên nhãn hàng hóa về ngày, tháng, năm sản xuất, thời hạn sử dụng, số lô sản xuất, số khung, số máy;
d) Cung cấp thông tin về hoạt động thương mại điện tử khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Người bán trên nền tảng thương mại điện tử trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến thực hiện các trách nhiệm sau đây:
a) Trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Chỉ sử dụng tài khoản thanh toán của mình trên nền tảng thương mại điện tử;
c) Cung cấp cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử đầy đủ giấy tờ chứng minh đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trước khi thực hiện hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên nền tảng;
d) Trường hợp phát hiện hàng hóa có khuyết tật theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, người bán phải cung cấp thông tin về hàng hóa có khuyết tật cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử để công khai thông tin trên nền tảng, thực hiện thu hồi, xử lý hàng hóa có khuyết tật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, theo điểm b khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Thương mại điện tử năm 2025, yêu cầu của chủ quản nền tảng thương mại điện tử là đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, chị K cũng phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm khác theo quy định như trên khi tham gia bán hàng qua nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử.
Tình huống 7: Công ty H mới bắt đầu kinh doanh thực phẩm bảo vệ sức khỏe và muốn triển khai quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Công ty H muốn biết với mặt hàng thực phẩm bảo vệ sức khỏe thì có cần phải đăng ký nội dung trước khi quảng cáo không và nội dung quảng cáo có gì cần lưu ý?
Trả lời:
Căn cứ Điều 33 Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm thì các thực phẩm sau đây phải đăng ký nội dung trước khi quảng cáo:
“1. Thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, thực phẩm bổ sung (trừ thực phẩm bổ sung chỉ chứa vitamin, khoáng chất và không có công bố khuyến cáo về sức khỏe - Health claims).
2. Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi (trừ sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi quy định tại Điều 7 Luật Quảng cáo).”
Như vậy, trước khi quảng cáo, công ty H phải đăng ký nội dung quảng cáo với cơ quan cấp Giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố sản phẩm theo quy định hiện hành (khoản 1 Điều 34 Nghị định số 46/2026/NĐ-CP).
Bên cạnh đó, căn cứ khoản 2, 3 Điều 34 Nghị định số 46/2026/NĐ-CP, đối với nội dung quảng cáo mặt hàng thực phẩm bảo vệ sức khỏe, công ty H cần lưu ý các quy định sau:
“- Nội dung quảng cáo phải phù hợp với công dụng, đối tượng, cảnh báo, khuyến cáo của sản phẩm đã được công bố trong bản công bố sản phẩm.
- Đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe:
a) Phải có khuyến cáo “Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”;
b) Quảng cáo sử dụng hình ảnh, âm thanh phải đọc rõ khuyến cáo theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Việc quảng cáo sử dụng hình ảnh với thời lượng ngắn dưới 15 giây thì không phải đọc “Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”, nhưng phải thể hiện khuyến cáo trong quảng cáo.”
Tình huống 8: Công ty C kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô cho người thuê tự lái. Ngày 05/3/2026, công ty C ký hợp đồng giao xe ô tô cho anh Y thuê tự lái dù biết anh Y không có giấy phép lái xe đang còn điểm đối với loại xe cho thuê. Khi bị phát hiện và yêu cầu nộp phạt, công ty C cho rằng anh Y lái xe không gây tai nạn giao thông nên không phải nộp phạt. Hỏi: ý kiến của công ty C không chấp hành nộp phạt trong trường hợp này là có đúng quy định pháp luật không?
Trả lời:
Căn cứ Nghị định số 336/2025/NĐ-CP ngày 22/12/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026), tại Điều 15 quy định Xử phạt hành vi vi phạm về dịch vụ cho thuê phương tiện chi tiết như sau:
“1. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 16.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ cho thuê phương tiện thực hiện hành vi vi phạm không ký kết hợp đồng cho thuê phương tiện để tự lái với người thuê.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ cho thuê phương tiện thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Bố trí lái xe cho người thuê phương tiện để tự lái;
b) Không ký kết hợp đồng cho thuê phương tiện tự lái với bên thuê để kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, vận tải nội bộ;
c) Ký kết hợp đồng cho thuê phương tiện để kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, vận tải nội bộ mà không thể hiện nội dung không kèm người lái xe với bên thuê.
3 Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 56.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ cho thuê phương tiện thực hiện hành vi vi phạm cho thuê phương tiện khi người thuê phương tiện để tự lái không có giấy phép lái xe đang còn điểm, còn hiệu lực phù hợp với loại xe cho thuê.”
Như vậy, căn cứ khoản 3 Điều 15 Nghị định số 336/2025/NĐ-CP, ý kiến của công ty C không chấp hành nộp phạt trong trường hợp này là không đúng quy định pháp luật. Dù người thuê ô tô tự lái không gây tai nạn giao thông, công ty C vẫn phải chấp hành nộp phạt số tiền từ 56.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng do đã có hành vi cho thuê phương tiện khi người thuê phương tiện để tự lái không có giấy phép lái xe đang còn điểm.
Tình huống 9: Chị L đến công ty P để mua vàng, tổng giá trị 15 triệu đồng. Chị L muốn thực hiện thanh toán bằng tiền mặt thì công ty P từ chối và yêu cầu chị L thực hiện chuyển khoản. Chị L muốn biết yêu cầu của công ty P có đúng quy định pháp luật không?
Trả lời:
Căn cứ khoản 4 Điều 1 Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 của Chính phủ bổ sung khoản 10 Điều 4 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng như sau:
“Việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.”
Như vậy, do số vàng chị L muốn mua chỉ có giá trị dưới 20 triệu đồng nên được quyền thanh toán bằng tiền mặt, không thông qua chuyển khoản. Việc công ty P yêu cầu chị L thanh toán bằng chuyển khoản là không đúng quy định pháp luật. Chỉ khi trong cùng một ngày mà số vàng mà chị L mua có tổng giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chị L mới phải thực hiện thanh toán thông qua tài khoản thanh toán của chị L và tài khoản thanh toán của công ty P.
Tình huống 10: Anh N đang là người lao động đã hưởng 02 tháng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định, nơi hưởng trợ cấp là tỉnh A. Tuy nhiên, vì lý do cá nhân, anh N có nhu cầu muốn chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp đến tỉnh khác. Anh N muốn biết trường hợp của anh có được quyền chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp đến tỉnh khác không? Nếu được chuyển thì hồ sơ cần có những giấy tờ gì và nộp cho cơ quan, đơn vị nào?
Trả lời:
Căn cứ khoản 1 Điều 41 Luật Việc làm năm 2025 quy định như sau: “Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động được chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có nhu cầu”. Như vậy trường hợp anh N đang hưởng 02 tháng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định thì anh N có quyền chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có nhu cầu.
Về cơ quan nhận hồ sơ: Điều 20 Nghị định số 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp quy định như sau:“Người lao động đã hưởng ít nhất 01 tháng trợ cấp thất nghiệp theo quy định mà có nhu cầu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp đến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác thì phải nộp trực tiếp hoặc qua Cổng dịch vụ công quốc gia đề nghị chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 19 ban hành kèm theo Nghị định này và gửi tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.”
Như vậy, anh N phải nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua Cổng dịch vụ công quốc gia đề nghị chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 19 ban hành kèm theo Nghị định số 374/2025/NĐ-CP và gửi về tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Anh N cần chuẩn bị hồ sơ chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:
a) Đề nghị chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động;
b) Giấy giới thiệu chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp;
c) Bản chụp quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp;
d) Bản chụp các quyết định hỗ trợ học nghề, quyết định tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp (nếu có);
đ) Bản chụp thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng (nếu có), các giấy tờ khác có trong hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Tình huống 11: Anh A là công chức cấp xã phụ trách đánh giá đánh giá nội dung, mức độ đạt chuẩn của chỉ tiêu 1 Tiêu chí 1 về “Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã được ban hành đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật”, do mới tiếp cận nên Anh A còn lúng túng và đề nghị hướng dẫn đánh giá nội dung, mức độ đạt chuẩn của chỉ tiêu 1 Tiêu chí 1. Hãy hướng dẫn Anh A thực hiện?
Trả lời:
Theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 15/2025/TT-BTP, xã, phường, đặc khu được đánh giá đạt chỉ tiêu 1 Tiêu chí 1 về văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã được ban hành đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi tỷ lệ Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được ban hành đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật đạt 100%
Cách đánh giá: Tỷ lệ % = (Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được ban hành đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, không bị cơ quan có thẩm quyền xử lý hoặc kiến nghị xử lý do trái với quy định pháp luật/Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phát sinh trong năm đánh giá phải ban hành) x 100 – Nếu đạt tỷ lệ 100% thì xác định đạt chỉ tiêu này.
Việc xác định “đúng thời hạn” ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã cần căn cứ vào văn bản giao nhiệm vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Luật, Nghị định của Chính phủ, Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc Kế hoạch/chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND để xác định nhiệm vụ ban hành ban hành văn bản quy phạm pháp luật phát sinh trong năm đánh giá và thời hạn văn bản quy phạm pháp luật đó được thông qua, được ký ban hành (ngày ban hành). Việc xác định “đúng quy định của pháp luật”: Cần căn cứ xem văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trong năm đánh giá có bị cơ quan có thẩm quyền ra văn bản xử lý hoặc kiến nghị xử lý do trái với quy định của pháp luật như Quyết định đình chỉ thi hành, Quyết định bãi bỏ văn bản trái pháp luật v.v… để xác định tỷ lệ % nêu trên.
Tình huống 12: Anh B là công chức cấp xã phụ trách đánh giá đánh giá nội dung, mức độ đạt chuẩn của chỉ tiêu 2 Tiêu chí 1 về “Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật”. Tuy nhiên, Anh B còn lúng túng và đề nghị được hướng dẫn. Hãy hướng dẫn Anh B thực hiện đảm bảo theo quy định?
Trả lời:
Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 15/2025/TT-BTP, xã, phường, đặc khu được xác định đạt chỉ tiêu 2 Tiêu chí 1 về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi tỷ lệ dự thảo Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật đạt 100%
Cách đánh giá: Tỷ lệ % = (Tổng số dự thảo Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định/Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phát sinh trong năm đánh giá phải ban hành) x 100 - Nếu đạt tỷ lệ 100% thì xác định đạt chỉ tiêu này.
Cần căn cứ Điều 3 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện và đánh giá chỉ tiêu này. Theo đó, việc truyền thông được thực hiện từ thời điểm lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đến khi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thông qua hoặc ban hành. Trừ văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước, nội dung truyền thông bao gồm: (i) Sự cần thiết ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật; (ii) Nội dung cơ bản bao gồm: nội dung mới, sửa đổi, bổ sung của chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Nội dung khác (nếu có). Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo xây dựng nội dung truyền thông theo quy định nêu trên bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu để đăng tải trên Cổng hoặc Trang Thông tin điện tử của cơ quan mình và tổ chức truyền thông bằng hình thức phù hợp. Các hoạt động truyền thông được thực hiện như: infographic; ảnh chụp, tin viết, bài phóng sự, chuyên đề, ... được đăng tải trên Cổng hoặc Trang Thông tin điện tử và truyền thông rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng khác như loa truyền thanh cơ sở, đăng trên báo địa phương, hội nghị, hội thảo, tọa đàm…
Tình huống 13: Anh C là công chức cấp xã phụ trách đánh giá đánh giá nội dung, mức độ đạt chuẩn của chỉ tiêu 3 Tiêu chí 1 về “Thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật”. Tuy nhiên, Anh C còn lúng túng và đề nghị được hướng dẫn. Hãy hướng dẫn Anh C thực hiện đảm bảo theo quy định?
Trả lời:
Theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 15/2025/TT-BTP, xã, phường, đặc khu được xác định đạt chỉ tiêu 3 Tiêu chí 1 về thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi tỷ lệ Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được thực hiện tự kiểm tra theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật đạt 100%.
Cách đánh giá: Tỷ lệ % = (Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của
UBND cấp xã được thực hiện tự kiểm tra theo quy định/Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phải thực hiện tự kiểm tra theo quy định trong năm đánh giá) x 100 - Nếu đạt tỷ lệ 100% thì xác định đạt chỉ tiêu này.
Cần căn cứ các quy định tại Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP) để thực hiện và đánh giá chỉ tiêu này. Việc xác định tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phải thực hiện tự kiểm tra theo quy định trong năm đánh giá được căn cứ vào khoản 2 Điều 12 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP). Theo đó, đối với văn bản của chính quyền địa phương, phải thực hiện tự kiểm tra văn bản theo quy định trong thời gian 10 ngày kể từ ngày văn bản được thông qua hoặc ký ban hành; đối với văn bản được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn hoặc trong trường hợp đặc biệt thì phải thực hiện tự kiểm tra theo quy định trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
Tình huống 14: Anh D là công chức cấp xã phụ trách đánh giá đánh giá nội dung, mức độ đạt chuẩn của Chỉ tiêu 1 “Thực hiện lập, cập nhật, đăng tải (hoặc niêm yết) Danh mục thông tin phải được công khai và Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin” thuộc Tiêu chí 2. Tuy nhiên, Anh D còn lúng túng và đề nghị được hướng dẫn. Hãy hướng dẫn Anh D thực hiện đảm bảo theo quy định?
Trả lời:
Chỉ tiêu 1 Tiêu chí 2 về “Thực hiện lập, cập nhật, đăng tải (hoặc niêm yết) Danh mục thông tin phải được công khai và Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin” được kế thừa từ chỉ tiêu 1 Tiêu chí 2 Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg về công khai thông tin và sửa đổi theo hướng chỉ tập trung vào đánh giá trách nhiệm lập, cập nhật, đăng tải hoặc niêm yết Danh mục thông tin phải được công khai và Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện theo điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Theo đó, điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định: UBND cấp xã có trách nhiệm chủ động lập, cập nhật, công khai Danh mục thông tin phải được công khai và đăng tải Danh mục trên Cổng Thông tin điện tử, Trang Thông tin điện tử; thường xuyên cập nhật và công khai thông tin theo đúng thời điểm, thời hạn và hình thức theo Danh mục thông tin phải được công khai.
Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 15/2025/TT-BTP quy định để đạt Chỉ tiêu 1 Tiêu chí 2 được hiểu là đạt 02/02 nội dung: (i) Thực hiện lập, cập nhật Danh mục thông tin phải được công khai, Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện; (ii) Đăng tải (hoặc niêm yết) Danh mục thông tin.
Đối với Danh mục thông tin phải được công khai: Luật Tiếp cận thông tin và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định cụ thể việc lập, cập nhật, công khai Danh mục này, bao gồm nội dung của Danh mục; cập nhật Danh mục; đăng tải Danh mục… (điểm m khoản 1 Điều 17, điểm g khoản 1 Điều 19 và điểm b khoản 1 Điều 34 của Luật; Điều 6 Nghị định số 13/2018/NĐ-CP). Do đó, việc thực hiện lập, cập nhật và công khai Danh mục này phải thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP.
Đối với Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện: Luật Tiếp cận thông tin không quy định. Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định về trách nhiệm lập Danh mục này; không có quy định cụ thể về nội dung Danh mục, việc đăng tải, cách thức đăng tải Danh mục này. Quy chế nội bộ của từng cơ quan có thể có quy định (Ví dụ Quy chế cung cấp thông tin cho công dân của UBND cấp xã).
Trong trường hợp cấp xã thực hiện lập Danh mục thông tin phải được công khai mà không thực hiện đăng tải (hoặc niêm yết) Danh mục thông tin hoặc không cập nhật thường xuyên Danh mục thông tin thì xác định là không đạt chỉ tiêu này.
Tình huống 15: Anh M là công chức cấp xã phụ trách đánh giá đánh giá nội dung, mức độ đạt chuẩn của chỉ tiêu 2 Tiêu chí 2 về “Thực hiện công khai văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã sau khi ban hành theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin”. Tuy nhiên, Anh M còn lúng túng và đề nghị được hướng dẫn. Hãy hướng dẫn Anh D thực hiện đảm bảo theo quy định?
Trả lời:
Theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 15/2025/TT-BTP, xã, phường, đặc khu được xác định đạt chỉ tiêu 2 Tiêu chí 2 về thực hiện công khai văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã sau khi ban hành khi tỷ lệ Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã sau khi ban hành được công khai theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin đạt 100%
Cách đánh giá: Tỷ lệ % = (Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã sau khi ban hành được công khai theo quy định/Tổng số Nghị quyết của HĐND được thông qua và Quyết định của UBND cấp xã phải thực hiện công khai theo quy định trong năm đánh giá) x 100
Việc xác định tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phải thực hiện công khai theo quy định trong năm đánh giá được căn cứ vào khoản 4 Điều 18 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Theo đó, thời điểm công khai thông tin đối với từng lĩnh vực được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan; trường hợp pháp luật chưa có quy định thì chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày tạo ra thông tin, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải công khai thông tin.
Cụ thể theo Điều 9 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với Nghị quyết của HĐND cấp xã, Quyết định của UBND cấp xã cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm gửi văn bản để đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND cấp xã phải được đăng tải trên công báo điện tử cấp tỉnh. Việc đăng công báo điện tử cấp tỉnh đối với văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã là bắt buộc.
Tình huống 16: Gia đình ông B được công nhận là hộ nghèo trên địa bàn xã. Hiện tại hộ gia đình ông có 5 người nhưng diện tích nhà ở rất chật hẹp, tổng diện tích là 35m2. Xin hỏi theo quy định pháp luật, hộ gia đình ông B có đáp ứng điều kiện được hỗ trợ nhà ở không?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 01/2022/TT-BXD thì hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ nhà ở thuộc một trong ba trường hợp sau:
- Hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có nhà ở hoặc nhà ở thuộc loại không bền chắc (trong ba kết cấu chính là nền - móng, khung - tường, mái thì có ít nhất hai kết cấu được làm bằng vật liệu không bền chắc).
- Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ nghèo, hộ cận nghèo nhỏ hơn 8m2.
- Chưa được hỗ trợ nhà ở từ các chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hoặc tổ chức xã hội khác.
Như vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều này, hộ gia đình ông C đủ điều kiện được hỗ trợ nhà ở.
Như vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều này, hộ gia đình ông C đủ điều kiện được hỗ trợ nhà ở.
Tình huống 17: Chị A là người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo, do không hiểu biết pháp luật nên chị A đã có hành vi đốt, phá rừng trái phép để khai hoang làm nương rẫy và bị bắt tạm giam, khởi tố về tội hủy hoại rừng. Qua các điều tra viên, A. biết mình có quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý. Đề nghị cho biết pháp luật quy định như thế nào về yêu cầu trợ giúp pháp lý?
Trả lời:
Yêu cầu trợ giúp pháp lý được quy định tại Điều 29 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 như sau:
- Khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, gồm có:
+ Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý.
+ Giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
+ Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.
- Việc nộp hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý được thực hiện như sau:
+ Trường hợp nộp trực tiếp tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người yêu cầu trợ giúp pháp lý nộp các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này; xuất trình bản chính hoặc nộp bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
Trường hợp người yêu cầu trợ giúp pháp lý không thể tự mình viết đơn yêu cầu thì người tiếp nhận yêu cầu có trách nhiệm ghi các nội dung vào mẫu đơn để họ tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe và yêu cầu họ ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn.
+ Trường hợp gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, người yêu cầu trợ giúp pháp lý nộp các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này, bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
+ Trường hợp gửi hồ sơ qua fax, hình thức điện tử, khi gặp người thực hiện trợ giúp pháp lý, người yêu cầu trợ giúp pháp lý phải xuất trình bản chính hoặc nộp bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
Tình huống 18: Chị Y khi biết mình là người có quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý vì gia đình thuộc hộ nghèo, chị đến Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước để yêu cầu trợ giúp pháp lý, nhưng bị trợ giúp viên của Trung tâm từ chối. Bức xúc trước hành vi trên, chị Y đã làm đơn khiếu nại nhưng chưa biết trình tự thực hiện như thế nào. Xin hỏi trong trường hợp này, pháp luật quy định giải quyết như thế nào về khiếu nại để bảo vệ quyền của người được trợ giúp pháp lý?
Trả lời:
Để bảo đảm quyền của người được trợ giúp pháp lý và nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ các đối tượng yếu thế, Điều 45 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định như sau:
- Người được trợ giúp pháp lý có quyền khiếu nại đối với hành vi sau đây của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình:
+ Từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý.
+ Không thực hiện trợ giúp pháp lý.
+ Thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật.
+ Thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật.
- Người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lên Giám đốc Sở Tư pháp.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp có hiệu lực thi hành. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án.
- Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý kỷ luật, quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về khiếu nại và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm quy định của Luật này. Việc tố cáo và giải quyết tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
Tình huống 19: Ngày 15/12/2023, bố chị H đã lập 01 bản di chúc để lại toàn bộ tài sản của ông cho chị. Tuy nhiên bản di chúc này không được công chứng và chứng thực(viết tay). Đầu năm 2024, bố chị H mất, anh trai và chị gái của chị H tranh chấp tài sản, yêu cầu chia lại tài sản do bố chị H để lại vì họ cho rằng bản di chúc do bố chị H lập ngày 15/12/2023 không được công chứng và chứng thực nên không hợp pháp. Chị N hỏi di chúc của bố chị lập nêu trên, không được công chứng và chứng thực thì có hợp pháp hay không?
Trả lời:
Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”
Căn cứ quy định nêu trên, di chúc của bố chị H được lập bằng văn bản (viết tay), không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện dưới đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật (Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hình thức của di chúc như sau: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”).
Tình huống 20: Tôi là Bác sĩ H. muốn mở một cơ sở y tế chuyên thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) để hỗ trợ các cặp vợ chồng hiếm muộn. Xin hãy hướng dẫn tôi biết cơ sở của mình cần đáp ứng những điều kiện gì theo quy định của pháp luật để được phép thực hiện kỹ thuật này.
Trả lời:
Điều 10 Nghị định số 207/2025/NĐ-CP quy định điều kiện của cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như sau:
- Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động theo hình thức bệnh viện có phạm vi hoạt động chuyên khoa phụ sản, có khả năng thực hiện xét nghiệm nội tiết sinh sản và các kỹ thuật cấp cứu sản khoa theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Có đơn nguyên riêng để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm gồm các phòng: chọc hút noãn, chuyển phôi; lấy tinh trùng; xét nghiệm và lọc rửa tinh trùng; Lab thụ tinh trong ống nghiệm.
- Có các thiết bị y tế phù hợp với kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà cơ sở thực hiện, tối thiểu gồm: tủ cấy; tủ ấm; thiết bị lưu trữ tinh trùng, noãn, phôi; thiết bị ly tâm; máy siêu âm; kính hiển vi đảo ngược, kính hiển vi soi nối và thiết bị thực hiện các kỹ thuật vi thao tác; tủ an toàn sinh học cấp độ 2 trở lên.
- Về nhân sự:
- Có tối thiểu 02 người hành nghề có chức danh bác sĩ với phạm vi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa sản phụ khoa và có văn bằng hoặc chứng nhận đào tạo về kỹ năng lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm kèm theo xác nhận đã trực tiếp thực hiện ít nhất 20 chu kỳ điều trị vô sinh bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại mục (v) cấp theo mẫu;
- Có tối thiểu 02 người có trình độ đại học về một trong các lĩnh vực y, dược hoặc sinh học, công nghệ sinh học và có văn bằng hoặc chứng nhận đào tạo về kỹ năng thực hành trong Lab thụ tinh trong ống nghiệm kèm theo xác nhận đã trực tiếp thực hiện ít nhất 20 chu kỳ điều trị vô sinh bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại mục (v) cấp theo mẫu;
- Các nhân sự này phải là nhân sự làm việc toàn thời gian tại bệnh viện.
- Các văn bằng, chứng nhận đào tạo quy định nêu trên phải được cấp bởi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong nước hoặc nước ngoài. Trường hợp cơ sở cấp văn bằng, chứng nhận đào tạo là cơ sở trong nước thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó phải được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, đã thực hiện ít nhất 1.000 chu kỳ điều trị vô sinh bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và là cơ sở cập nhật kiến thức y khoa liên tục. Trường hợp cơ sở cấp văn bằng, chứng nhận đào tạo là cơ sở ở nước ngoài thì cơ quan cấp phép thực hiện việc đánh giá thực tế năng lực thực hiện kỹ thuật trong quá trình thẩm định.
Tình huống 21: Vì nhẹ dạ, cháu tôi đã bị kẻ xấu dụ dỗ đi chơi ở cửa khẩu biên giới và đã bị bán cho một người đàn ông Trung Quốc. Cháu tôi đã bị người đàn ông này mang về làm vợ và bắt làm nhiều việc đồng áng nặng nhọc, không cho tiếp xúc với ai, không được sử dụng điện thoại, internet. Trong một lần đi làm đồng, cháu đã mượn được điện thoại di động của một người làm gần đó và liên hệ về nhà. Gia đình tôi đã phối hợp với Công an giải cứu được cháu. Xin hỏi, theo quy định pháp luật, cháu tôi có những quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời:
Với những tình tiết trên, cháu ông (bà) được xác định là nạn nhân trong vụ mua bán người. Theo quy định tại Điều 6 Luật phòng, chống mua bán người, nạn nhân có những quyền và nghĩa vụ sau:
Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân:
- Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có quyền sau đây:
+ Đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ mình, người thân thích của mình theo quy định của Luật này khi bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người;
+ Được thông tin về quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các biện pháp phòng ngừa mua bán người;
+ Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật này hoặc từ chối nhận hỗ trợ;
+ Được bảo vệ bí mật thông tin, dữ liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nơi cư trú, nơi làm việc và thông tin khác theo quy định của pháp luật;
+ Được cơ quan, người có thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân;
+ Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
+ Được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ;
+ Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
- Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có nghĩa vụ sau đây:
+ Chấp hành đầy đủ yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ;
+ Cung cấp thông tin liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền;
+ Thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc mua bán người;
+ Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
Tình huống 22: Anh A thuê trọ tại thành phố X và đã chuyển đến ở được hơn 03 tháng nhưng không thực hiện đăng ký tạm trú theo quy định. Khi cơ quan công an kiểm tra cư trú tại khu nhà trọ, anh A không xuất trình được thông tin cư trú hợp lệ. Trong trường hợp này, hành vi của anh A có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú…” sẽ bị xử phạt. Ngoài ra, theo điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định này, hành vi “không xuất trình giấy tờ liên quan đến cư trú hoặc thông tin về cư trú trên ứng dụng định danh quốc gia theo yêu cầu kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền” cũng là hành vi vi phạm.
Đối chiếu với trường hợp của anh A, việc không đăng ký tạm trú khi đã đến ở tại nơi ở mới và không xuất trình được thông tin cư trú khi bị kiểm tra là hành vi vi phạm quy định về quản lý cư trú. Do đó, anh A có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP nêu trên.
Tình huống 23: Anh B mượn thẻ căn cước công dân của bạn mình để đăng ký thuê phòng trọ và thực hiện một số giao dịch cá nhân. Khi bị cơ quan chức năng kiểm tra, hành vi này bị phát hiện. Trong trường hợp này, hành vi của anh B có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, hành vi “chiếm đoạt, sử dụng trái phép thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước… của người khác” là hành vi vi phạm pháp luật.
Đối chiếu với trường hợp của anh B, việc mượn và sử dụng thẻ căn cước công dân của người khác để thực hiện các giao dịch là hành vi sử dụng trái phép giấy tờ tùy thân. Do đó, anh B có thể bị phạt tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP nêu từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng trên.
Tình huống 24: Anh D sử dụng loa kéo để mở nhạc lớn và quảng cáo bán hàng tại một công viên công cộng nhưng không xin phép cơ quan có thẩm quyền. Việc này gây ảnh hưởng đến những người xung quanh. Trong trường hợp này, hành vi của anh D có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, hành vi “dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền” là hành vi vi phạm pháp luật.
Đối chiếu với trường hợp của anh D, việc sử dụng loa kéo để quảng cáo bán hàng tại nơi công cộng mà không được phép là hành vi vi phạm quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung. Do đó, anh D có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP nêu trên. Ngoài ra, tang vật, phương tiện vi phạm (loa kéo) có thể bị tịch thu theo quy định tại khoản 4 Điều này.
Tình huống 25: Anh M kinh doanh sơn và dung môi dễ cháy tại cửa hàng. Do diện tích kho nhỏ, anh M đã để số lượng lớn các thùng hóa chất vượt quá mức cho phép theo quy định về phòng cháy, chữa cháy. Khi cơ quan chức năng kiểm tra, hành vi này bị phát hiện. Trong trường hợp này, hành vi của anh M có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, hành vi “bảo quản chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ vượt quá số lượng, khối lượng theo quy định” là hành vi vi phạm pháp luật. Đối chiếu với trường hợp của anh M, việc lưu trữ số lượng lớn hóa chất dễ cháy vượt mức cho phép là hành vi không bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy.
Do đó, anh M có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 106/2025/NĐ-CP nêu trên. Ngoài ra, anh F còn bị buộc giảm số lượng, khối lượng chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ theo quy định tại khoản 8 Điều này.
Tình huống 26: Anh H có chứng chỉ hành nghề lưu trữ nhưng đã cho người khác mượn để sử dụng trong hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trữ nhằm hưởng lợi. Hành vi này bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện. Trong trường hợp này, hành vi của anh H có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 31/2026/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, hành vi “cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn Chứng chỉ hành nghề lưu trữ để hành nghề lưu trữ hoặc kinh doanh dịch vụ lưu trữ” là hành vi vi phạm pháp luật.
Đối chiếu với trường hợp của anh H, việc cho người khác mượn Chứng chỉ hành nghề lưu trữ để phục vụ hoạt động kinh doanh là hành vi sử dụng chứng chỉ không đúng quy định. Do đó, anh H có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 31/2026/NĐ-CP nêu trên. Ngoài ra, anh H còn có thể bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề lưu trữ từ 03 tháng đến 06 tháng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này.
Tình huống 27: Chị A thấy một fanpage trên Facebook quảng cáo bán iPhone giá rẻ hơn thị trường khoảng 30%, kèm theo nhiều hình ảnh và đánh giá tích cực. Sau khi nhắn tin, người bán yêu cầu chị A chuyển khoản trước 100% giá trị đơn hàng (15 triệu đồng) để “giữ máy”. Tin tưởng, chị A đã chuyển tiền qua ngân hàng. Tuy nhiên sau khi chuyển tiền, người bán liên tục trì hoãn giao hàng. Sau 2 ngày thì chặn liên lạc và xóa tin nhắn, Fanpage cũng biến mất. Chị A không nhận được hàng và mất toàn bộ số tiền đã chuyển. Hỏi trong trường hợp này, pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời: Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015 về Hợp đồng mua bán tài sản quy định:
“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.”
Theo đó, việc giao kết hợp đồng thực hiện bằng hành vi giao kết qua mạng là giao dịch dân sự được pháp luật thừa nhận.
Như vậy, trong trường hợp chị A đã đặt hàng trên mạng, đã chuyển tiền vào tài khoản người bán và có xác nhận giao dịch đặt hàng thành công thì được xem là hợp đồng mua bán tài sản đã được xác lập.
Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo quy định tại Điều 436 Bộ luật Dân sự 2015 thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng như đã thỏa thuận.
Căn cứ Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự quy định:
Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.
Căn cứ quy định trên, trường hợp chị A đã thanh toán đủ số tiền hàng nhưng người bán không giao hàng có thể xác định là người bán đã vi phạm nghĩa vụ. Và theo đó, người mua có quyền yêu cầu người bán hoặc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc hoàn trả tiền người mua đã chuyển và bồi thường thiệt hại (nếu có).
Các quy định tại Điều 186, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, người mua có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi đóng trụ sở nếu bị đơn là tổ chức để yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ nếu các bên không tự thỏa thuận được hoặc bị đơn cố tình trốn tránh.
Trường hợp đơn khởi kiện hợp lệ, vụ việc sẽ được Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục luật đinh. Xong, con đường khởi kiện không phải hành trình đơn giản bởi tốn kém cả về thời gian và chi phí, do vậy, khi số tiền bị mất không lớn người ta thường sẽ ngậm ngùi cho qua chứ không tiến hành khởi kiện.
Nếu người vi phạm có dấu hiệu gian dối nhằm chiếm đoạt toàn bộ số tiền của bên mua (xóa trang web, không thể liên lạc được, ….) thì người mua có quyền gửi đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan có thẩm quyền tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bên bán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 nếu bên bán đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc bên bán đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Tình huống 28: Tại trường đại học X, vào giờ ra chơi buổi sáng, giảng viên phát hiện một nhóm sinh viên tụ tập phía sau khu nhà xe. Trong đó, em Trần Văn B đang sử dụng thuốc lá điện tử (vape) và chuyền cho các bạn cùng lớp. Hỏi hành vi hút thuốc lá điện tử bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Theo Nghị định 371/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ sửa đổi Nghị định 77/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá về biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá và Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng bị phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng và buộc tiêu hủy thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Tình huống 29: Anh Lê Văn C (sinh năm 1998, quê tỉnh Đồng Tháp) lên TP. Hồ Chí Minh làm việc và thuê trọ tại phường Bình Thạnh từ tháng 01/2026. Tuy nhiên, sau hơn 02 tháng sinh sống tại đây, anh C không thực hiện đăng ký tạm trú với cơ quan công an địa phương vì cho rằng “ở trọ ngắn hạn nên không cần thiết”. Trong đợt kiểm tra cư trú định kỳ, Công an phường tiến hành rà soát tại khu nhà trọ nơi anh C đang ở. Qua kiểm tra: chủ nhà trọ không khai báo tạm trú cho người thuê; anh C cũng chưa thực hiện đăng ký tạm trú theo quy định. Thời gian lưu trú thực tế đã vượt quá thời hạn phải khai báo. Hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời: Theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, đối với các hành vi vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú, Nghị định quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500 nghìn đồng đến 1 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau:
- Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú, tách hộ, điều chỉnh thông tin về cư trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú hoặc khai báo thông tin về cư trú;
- Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng;
- Không xuất trình giấy tờ liên quan đến cư trú hoặc thông tin về cư trú trên ứng dụng định danh quốc gia theo yêu cầu kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền.
Tình huống 30: Anh Phạm Văn D (sinh năm 1990, cư trú tại TP. Hồ Chí Minh) cần gấp 50 triệu đồng để giải quyết việc cá nhân nhưng không đủ điều kiện vay ngân hàng. Thông qua giới thiệu, anh D vay tiền của bà Nguyễn Thị E (chủ một cơ sở cho vay tiền nhanh) với thỏa thuận: lãi suất: 5.000 đồng/1 triệu/ngày (tương đương khoảng 182,5%/năm); thời hạn vay: 30 ngày; hình thức: không hợp đồng, chỉ ghi giấy viết tay. Hỏi hành vi cho vay lãi nặng bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015, lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự tại thời điểm trả nợ.
Trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Điều 201, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” như sau:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm…”.
Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao định nghĩa về cho vay lãi nặng là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Do đó, hành vi cho vay tiền với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất trong Bộ luật Dân sự, thu lợi từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tình huống 31: Chị Nguyễn Thị H (sinh năm 2002, quê tỉnh miền Tây) lên TP. Hồ Chí Minh tìm việc làm. Qua mạng xã hội, chị H thấy một tài khoản đăng tin tuyển dụng “việc nhẹ lương cao” tại nước ngoài với mức lương 25–30 triệu đồng/tháng, bao ăn ở, không yêu cầu kinh nghiệm. Người đăng tin (tên T) liên hệ, hứa hẹn hỗ trợ toàn bộ chi phí xuất cảnh và yêu cầu chị H cung cấp giấy tờ cá nhân. Sau khi tin tưởng, chị H được T đưa đi làm thủ tục nhanh chóng và di chuyển qua khu vực biên giới. Khi sang nước ngoài, chị H bị giữ giấy tờ tùy thân, không được tự do đi lại, bị ép làm việc trong môi trường không đúng như thỏa thuận ban đầuNếu không làm việc, bị đe dọa và gây áp lực. Gia đình chị H không liên lạc được và đã trình báo cơ quan chức năng. Hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Điều 150 Bộ Luật Hình sự 2015 và Bộ Luật hình sự sửa đổi 2017 quy định như sau:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Vì động cơ đê hèn;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;
e) Phạm tội 02 lần trở lên.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
đ) Đối với 06 người trở lên;
e) Tái phạm nguy hiểm.”.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
- Điều 151 Bộ Luật Hình sự 2015 và Bộ Luật hình sự sửa đổi 2017 quy định tội mua bán người dưới 16 tuổi như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội;
c) Đối với từ 02 người đến 05 người;
d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;
đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Vì động cơ đê hèn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
e) Đối với 06 người trở lên;
g) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
- Điều 5 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về Tội mua bán người và Điều 151 về Tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài như sau:
“1. Người sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 của Bộ luật Hình sự nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Biết người lao động (từ đủ 16 tuổi trở lên) ra nước ngoài sẽ bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng vẫn lừa gạt hoặc ép buộc người lao động và chuyển giao họ cho phía nước ngoài để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Chuyển giao người lao động (từ đủ 16 tuổi trở lên) cho phía nước ngoài bán người lao động cho người khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người lao động (từ đủ 16 tuổi trở lên) để chuyển giao cho phía nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
2. Người sử dụng thủ đoạn môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài để lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (như: sau khi nhận tiền của người lao động đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
3. Người tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài không nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc không vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép hoặc tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.
- Khoản 1 Điều 3 Bộ Luật Hình sự 2015 và Bộ Luật hình sự sửa đổi 2017 quy định :
“1. Đối với người phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;
c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
“d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;”;
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;
e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”.
Tình huống 32: Anh Trần Văn M (sinh năm 2000, quê Bình Định) thuê trọ tại Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Cùng dãy trọ có anh Nguyễn Văn N (sinh năm 1998), làm công nhân, thường xuyên đi làm ca đêm. Do biết anh N hay vắng nhà vào buổi tối, M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Vào khoảng 22 giờ ngày 10/3/2026, lợi dụng lúc anh N đi làm, M dùng dụng cụ phá khóa phòng trọ; lấy trộm 01 laptop và 01 điện thoại di động, tổng trị giá khoảng 15 triệu đồng. Sau đó, M mang tài sản đi bán để lấy tiền tiêu xài, anh N phát hiện mất tài sản và trình báo Công an phường. Qua trích xuất camera và xác minh, cơ quan Công an đã xác định và mời M lên làm việc. Hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), cụ thể như sau:
Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
+ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
+ Tài sản là di vật, cổ vật.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
+ Có tổ chức;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
+ Hành hung để tẩu thoát;
+ Tài sản là bảo vật quốc gia;
+ Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
* Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng./.